Kỹ thuật chăm sóc và bón phân cho lúa thời kỳ mạ

Thời kỳ mạ của cây lúa được chia làm 2 giai đoạn nhỏ là: giai đoạn mạ non và giai đoạn mạ khỏe.

  • Giai đoạn mạ non: tính từ thời điểm gieo sạ đến khi cây lúa được 3 lá thật
  • Giai đoạn mạ khỏe: tính từ khi cây có lá thật thứ 4 đến trước đẻ nhánh

Vậy chăm sóc lúa ở giai đoạn này cần đặc biệt quan tâm những vấn đề gì? Sinh Học Châu Á kính mời quý bà con, quý bạn đọc cùng tìm hiểu ở bài viết này!

1. Dặm lúa

Dặm lúa là một hoạt động thường trực trong quá trình trồng lúa. Dặm lúa tức là sử dụng cây có cùng ngày tuổi và giống để bổ sung vào những chỗ lúa mọc thưa do gieo sạ không đồng đều; lúa chết do ngập nước, động vật phá hoại,… sao cho mật số trồng được đảm bảo.

  • Thời điểm dặm lúa

Lúa trồng bằng phương pháp gieo sạ hoặc cấy sẽ có thời điểm dặm lúa khác nhau.

Đối với các ruộng lúa sạ thì thời điểm dặm tốt nhất là từ 18 – 22 ngày. 

Đối với lúa cấy thì tiến hành dặm lúa sau khi cấy từ 5 – 7 ngày.

Để tiết kiệm chi phí canh tác chỉ nên dặm lúa ở những vùng chết nhiều, ruộng lên thưa. Để đảm bảo lúa dặm và lúa trồng ban đầu phát triển đồng đều thì phải sử dụng mạ đúng độ tuổi, đúng giống. 

Quá trình dặm lúa không chỉ là bù đắp cây vào những chỗ trống, chỗ thưa mà còn cân đối lại những chỗ có cây lên quá dày sao cho đảm bảo khoảng cách cho cây đẻ nhánh một cách tốt nhất về sau.

Các bước quan trọng để cấy dặm lúa là:

  • Gieo mạ dự phòng để cấy dặm
  • Ước tính diện tích cần cấy dặm
  • Chuẩn bị nhân lực
  • Chuẩn bị mạ để cấy
  • Cấy dặm

2. Quản lý nước trên ruộng

Công tác quản lý nước rất quan trọng, đòi hỏi người trồng lúa phải luôn theo dõi tình hình nước trong ruộng để kịp thời có các biện pháp điều chỉnh.

Nhu cầu của lúa ở giai đoạn này như sau:

  • Giai đoạn mới sạ: Không giữ nước trong ruộng quá nhiều chỉ cần cung cấp đủ độ ẩm cho ruộng. Trong khoảng thời gian 2 -3 ngày đầu không để ruộng bị ngập nước sẽ ảnh hưởng đến khả năng nảy mầm, hạt giống thậm chí có thể không mọc được.
  • Sau khi sạ 5 – 20 ngày: giữ nước xăm xắp mặt ruộng, không để ruộng khô sẽ gây khó khăn cho sự phát triển của bộ rễ cây lúa. Việc giữ mực nước vừa phải thời điểm này giúp rễ hạn chế bị thương tổn và dễ dàng hấp thu phân bón. Một điểm quan trọng của giữ mực nước xăm xắp giai đoạn này giúp hạn chế cỏ dại.

Trong xuyên suốt quá trình kiểm soát nước trên đồng ruộng cần thường xuyên kiểm tra bờ bao, đắp bờ,… để nước không tự chảy ra hoặc chảy vào.

3. Quản lý cỏ dại giai đoạn mạ

Cỏ dại là đối tượng thường trực trên đồng ruộng, chúng sinh trưởng mạnh, sức sống dai, nếu không có các biện pháp quản lý thì sẽ phát triển mạnh, cạnh tranh dinh dưỡng với lúa.

Cỏ dại thường được xử lý tiền nảy mầm và hậu nảy mầm. Từ bước đầu của giai đoạn làm đất người ta đã tiến hành xử lý cỏ dại.

4. Bón phân cho lúa

Việc bón phân cho cây lúa đã diễn ra từ giai đoạn làm đất, thời điểm đó người trồng lúa đã tiến hành bón lót cho ruộng.

Ở giai đoạn này, lượng phân bón bổ sung:

  • Đợt 1 (7 – 10 ngày sau sạ): Bón 25 – 30 kg ure và 6 – 7 kg Kali cho công 1000m2.

Đồng thời sử dụng thêm các dòng phân bón lá để cây hấp thu tốt hơn, chuẩn bị tiền đề cho giai đoạn đẻ nhánh tối đa về sau.

Lưu ý: Lượng phân bón có thể điều chỉnh theo tình trạng ruộng và mật số trồng.

5. Quản lý sâu bệnh hại

  • Giai đoạn này bà con cần chú ý các đối tượng sâu – côn trùng gây hại như là sâu đục thân, sâu phao, bù lạch, sâu cuốn lá,…. 
  • Các bệnh hại cần đặc biệt quan tâm là thối thân, đạo ôn, cháy bìa lá,… 
  • Ngoài ra còn một số đối tượng hại khác cũng cần được kiểm soát như là ốc bươu vàng, chuột,…

Ở thời kỳ đầu, bà con nên hạn chế sử dụng thuốc BVTV để tiêu diệt sâu bệnh. Vì việc sử dụng thuốc BVTV thời điểm này sẽ xử lý luôn cả các loài thiên địch có lợi, làm mất cân bằng sinh thái và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch hại về sau.

Thực hiện tốt các biện pháp canh tác như xử lý đất trước khi gieo sạ, phát quang cỏ dại, điều chỉnh lượng nước và dinh dưỡng cân đối,… sẽ góp phần hạn chế ảnh hưởng xấu của các đối tượng gây hại.

Để chủ động phòng ngừa, bà con có thể tham khảo sử dụng các chế phẩm sinh học kiểm soát sâu và bệnh hại trên lúa. Các chế phẩm này sử dụng cơ chế đối kháng sâu bệnh hại, tấn công đúng đối tượng mục tiêu mà không làm ảnh hưởng đến thiên địch và sinh thái đồng ruộng.

Tham khảo một số dòng sản phẩm sinh học kiểm soát và hỗ trợ các vấn đề về sâu bệnh hại trên lúa của Sinh Học Châu Á (Asia):

Triray: Kiểm soát rầy nâu 

Đạo ôn – vi khuẩn: Ngăn chặn sự phát triển của nấm bệnh đạo ôn

Chăm sóc lúa khỏe từ thời kỳ mạ là nền móng quan trọng để cây lúa cho năng suất tốt về sau. Sinh Học Châu Á kính mời quý bà con, quý độc giả cùng đón xem phần tiếp theo của kỹ thuật chăm sóc lúa cho năng suất cao.

Bài viết liên quan :

Kỹ thuật bảo quản lúa sau thu hoạch

 Trong điều kiện thời tiết vụ hè thu mưa lũ kéo dài đã làm ảnh hưởng đến công tác thu hoạch lúa và công tác bảo quản hạt lúa cũng hết sức khó khăn. Nếu thu hoạch chạy lụt mà bà con nông dân bảo quản không đúng cách sẽ làm chất lượng hạt thóc bị giảm sút nghiêm trọng, hàm lượng các chất dinh dưỡng và giá trị thương phẩm cũng bị giảm đáng kể. Để khắc phục và giảm tổn thất trong quá trình thu hoạch, bà con cần áp dụng các kỹ thuật cơ bản:

Làm khô

Trong điều kiện trời mưa, nhiệt độ thấp và không có hệ thống sấy hiện đại thì bà con nông dân phải sấy lúa bằng hệ thống quạt thông gió và ánh điện để làm giảm độ ẩm của hạt, nên rải lúa thành luống trên nền khô, mỗi luống cao khoảng 10-15cm, rộng 40-50cm và cứ nửa giờ cào đảo một lần để tránh hiện tượng tự bốc nóng của đống hạt.

Ngoài ra có thể làm khô lúa bằng phương pháp nhân tạo như: sấy lúa với không khí nóng, sấy đối lưu, sấy bức xạ… Những phương pháp này có ưu điểm là lúa có thể được làm khô bất cứ lúc nào và không phụ thuộc và thời tiết nắng hay mưa, độ ẩm của hạt có thể khống chế hợp lý trong thời gian giới hạn và khi xay xát, hiệu suất thu hồi gạo cao hơn so với sấy tự nhiên.

Trong điều kiện thời tiết thuận lợi thì thông thường lúa được làm khô bằng các cách sau:

Phơi nhanh: Lúa được phơi dưới ánh nắng mặt trời, nhiệt độ không khí lên tới 40 độ C, nhiệt độ trên sân xi măng, sân gạch có thể đạt tới 60-70 độ C, khi đó nhiệt độ hạt lúa có thể trên 50 độ C. Phơi theo cách này chỉ cần phơi lúa liên tục từ 8-9 giờ sáng cho đến 4-5 giờ chiều trong 2-3 ngày nắng là lúa có thể xay xát được. Lúa được phơi thành luống, mỗi luống cao khoảng 10-15 cm, rộng 40-50 cm và cứ nửa giờ cào đảo một lần. Tuy nhiên, phơi theo cách này hạt gạo bị nứt nẻ khi xay xát, tỷ lệ gạo bị gãy cao do nước bên trong hạt gạo không đủ thời gian khuếch tán ra bên ngoài.

Phơi lâu: Phương pháp này đòi hỏi mất nhiều thời gian và lao động hơn nhưng gạo ít bị tấm hơn. Lúa được trải thành luống như cách trên nhưng ngày đầu tiên chỉ phơi lúa dưới nắng 2 giờ, ngày thứ hai phơi 3 giờ, ngày thứ ba phơi 4 giờ. Cứ 15 phút cào đảo một lần. Trong 3 ngày đầu, sau khi phơi ngoài nắng, đưa lúa vào chỗ có bóng mát, càng thoáng gió càng tốt. Các ngày sau đó, lúa tiếp tục được phơi 5-6 giờ/ngày cho đến khi lúa có độ ẩm thích hợp cho việc xay xát hoặc tồn trữ. Nếu nắng tốt thì đến ngày thứ tư, độ ẩm của lúa đạt tiêu chuẩn để xay xát và bảo quản.

Kỹ thuật chọn giống lúa khỏe cho đồng ruộng

Vì khâu để giống và chọn giống phải có chất lượng tốt thì cây lúa trồng sau này sẽ được khoẻ mạnh, chịu đựng được và vượt qua được biến động của môi trường sống (gặp hạn hoặc gặp lạnh đột ngột )

Như vậy hạt giống khoẻ là hạt giống phải có những yêu cầu sau:

1. Hạt giống phải thuần, đúng giống, phải đồng nhất về kích cỡ, giống không bị lẫn những giống khác, hạt cỏ và tạp chất. Hạt giống phải sáng mẩy, không hoặc có rất ít hạt lem (chỉ chấp nhận có hạt lem 0,5 % bị lẫn trong hạt giống, nghĩa là 1.000 hạt chỉ có 5 hạt hạt lem), có rất ít hạt lửng và hạt bị dị dạng.

2. Tỷ lệ nẩy mầm cao ( hơn 80 %) và cây mạ phải có sức sống mạnh.

3. Hạt giống không bị côn trùng phá hoại (sâu mọt), không lẫn hạch nấm hoặc không mang mầm bệnh nguy hiểm

Muốn có hạt giống khoẻ thì ta phải lưu ý một số biện pháp cải thiện chất lượng hạt giống khi còn trên đồng ruộng và trong bảo quản tồn trữ như là:

a. Trên đồng ruộng:

Sau khi nông dân chọn và canh tác những giống thích hợp ở điều kiện địa phương, thì chúng ta cần lưu ý những biện pháp sau đây:

Kỹ thuật canh tác: Bảo đảm cây lúa sinh trưởng tốt (bón phân cân đối và đầy đủ, quản lý nước tốt, làm sạch cỏ dại, không có lúa rày ( lúa cỏ ) trên chân ruộng, phòng trừ sâu bệnh tốt ở cuối vụ như bệnh vàng lá, bệnh đốm vằn, bệnh cháy bìa lá, rầy nâu, bọ xít dài,& để hạn chế gây lép hạt ở tỷ lệ cao, hạn chế vi sinh vật gây bệnh cho hạt và đặc biệt không lấy giống ở những ruộng có bệnh gây hại nặng  như  bệnh đạo ôn, lúa von,  bệnh  cháy bìa lá, bệnh lem lép hạt & (vì những bệnh này có khả năng lây truyền qua hạt giống)

Khử lẫn: Tiến hành khử lẫn ngay từ đầu để bảo đảm lúa bằng đọt và sau khi trổ tiến hành khử lẫn lần cuối  để bảo đảm độ thuần. Cách khử lẫn như sau : Nhổ bỏ những cây cao và ngoài hàng (cấy hoặc sạ theo hàng), cắt những bông lúa khác so với quần thể như lúa cỏ, lúa von, lúa khác giống.

b. Không chọn những ruộng lúa bị bệnh để giống cho vụ sau: Như  bệnh lúa von, bệnh đạo ôn, bệnh cháy bìa lá, bệnh than vàng, bệnh đen hạt, bệnh đốm nâu, &

c. Thu hoạch và tồn trữ :

Trong thu hoạch lúa giống, các điều kiện cần có để bảo đảm độ thuần của lúa giống như sau:

– Chuẩn bị máy suốt sạch không còn lẫn tạp giống khác, kể cả bao bì  đựng lúa giống.

– Chuẩn bị sân phơi riêng, không phơi gần những giống khác. Chú ý không nên phơi mớ ngoài đồng (dễ làm gạo gẫy, lúa khô không đều)

– Sau khi phơi khô, giê sạch, ẩm độ hạt còn 14 % là đều kiện tồn trữ tốt nhất

– Cách tồn trữ : Nơi thoáng mát, tránh mưa nắng, nếu tồn trữ từ vụ Hè Thu năm trước đến vụ Đông Xuân sau, phải chú ý bảo vệ sâu mọt để bảo đảm độ nẩy mầm.

Có thể : Xử lý hạt giống để diệt trừ mầm bệnh trước khi gieo sạ:

– Xử lý bằng nhiệt (ở nhiệt độ 54 o C trong 15 phút, nếu không có nhiệt kế thì áp dụng ngâm ở nhiệt độ 3 phần nước sôi hòa với 2 phần nước lạnh)

–  Xử lý nước muối 15 % trong 30 phút để loại hạt lép lững (hạt lép lững là hạt chứa nhiều mầm bệnh), và có thể diệt được một số mầm bệnh trên hạt lúa.

– Xử lý một trong các loại thuốc trừ nấm có hoạt chất như Benomyl, Carbendazim,&ở nồng độ 0,5 % (5 ml thuốc cho 1lít nước/ 1 kg hạt lúa giống) ngâm trong 3 giờ, hoặc trộn khô hạt giống với thuốc dạng bột như Zineb, Mancoxeb &. theo tỷ lệ 0,5 % (5 g thuốc trộn với 1kg hạt giống), hoặc có thể dùng nước vôi ngâm hạt giống trong 2 giờ trước khi ngâm ủ cũng có tác dụng tiêu diệt một số nấm.

Cách ngâm lúa giống đúng kỹ thuật bà con nông dân cần biết

Ngâm lúa giống là quá trình kích thích sự nảy mầm, đảm bảo hạt giống lên tốt, khỏe, từ đó giúp cây lúa phát triển mạnh mẽ và đạt năng suất cao hơn. Dưới đây là một số bước cơ bản Việt Hóa Nông gợi ý đến bà con nông dân để có thể ngâm lúa giống đúng kỹ thuật và đạt hiệu quả cao nhé!

1. Lựa chọn hạt giống

Sử dụng hạt giống đạt tiêu chuẩn chất lượng tương đương cấp xác nhận (theo quy định của Bộ NN & PTNT):

– Độ sạch (% khối lượng) > 99,0%.

– Tạp chất (% khối lượng) < 1,0%.

– Hạt khách giống phȃn biệt được (% hạt) < 0,25%.

– Hạt cỏ (số hạt/kg) < 10 hạt.

– Tỷ lệ nảy mầm (% số hạt) > 85%.

– Độ ẩm (%) < 13.5 %.

2. Xử lý hạt giống

Cần xử lý để đảm bảo hạt giống khỏe mạnh. Triệt tiêu các mầm mống sâu bệnh, loại bỏ các hạt giống lép kém chất lượng. Cách để xử lý hạt giống:

– Xử lý bằng nhiệt (ở nhiệt độ 54°C trong 15 phút, nếu không có nhiệt kế thì áp dụng ngâm ở nhiệt độ 3 phần nước sôi hòa với 2 phần nước lạnh).

– Xử lý nước muối 15% trong 30 phút để loại hạt lép lửng (hạt lép lửng là hạt chứa nhiều mầm bệnh) và có thể diệt được một số mầm bệnh trên hạt lúa.

– Xử lý nước vôi trong (3%): Pha theo tỷ lệ 300g vôi tôi + 10 lít nước trong 20 phút, sau đó lọc được 7 lít nước để ngâm cho 7kg lúa giống trong 10-12 giờ.

3. Ngâm lúa giống

Sau khi xử lý 1 trong 3 cách xử lý hạt giống như trên. Sau đό, cho vào bao ngȃm trong nước sạch 30 giờ.

Để nhận biết hạt giống đã hút đủ độ ẩm cần thiết bà con chú ý quan sát:

– Hạt lúa căng đều, nhìn rõ phôi màu trắng ở đầu hạt. Cắn thử giữa hạt thấy bở mềm ở ngoài, hơi cứng ở lõi là hạt lúa đã no nước.

– Đối với hạt giống lúa lai: vì vỏ trấu mỏng hơn nên thời gian ngâm sẽ ngắn hơn so với lúa thuần, chỉ ngâm từ 14-18 giờ.

4. Ủ lúa giống

Sau khi đã ngâm hạt giống đủ no, đãi sạch và để ráo nước. Sau đó mang đi ủ như sau: Pha 20ml Kepak/10 lít nước cho ủ 10 kg lúa giống, có thể pha thêm thuốc BVTV như: Thiamethoxam, ủ qua đêm. Sau đó mang đi gieo sạ.

4 Bước làm đất trồng lúa cơ bản

Làm đất trồng lúa là bước thiết yếu trong quá trình trồng lúa. Đất là nơi để rễ lúa bám vào hấp nước và dinh dưỡng nuôi cây, đất là điểm bám giúp cây đứng vững không đổ ngã. Vậy cách làm đất trồng lúa như thế nào để cây phát triển khỏe mạnh, cho năng suất cao? Mời bạn đọc tìm hiểu cùng Sinh Học Châu Á trong bài viết này!

1. Điều kiện thổ nhưỡng trồng lúa

Lúa phát triển tốt trên đất tơi xốp, giàu dinh dưỡng, thoáng khí. Độ pH thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa là từ 5,5 – 7,5.

Tầng canh tác của đất trồng lúa phải đủ dày để cho rễ bám vào thu nhận nước và dưỡng chất.

Trong đất không chỉ có dinh dưỡng, khoáng chất, lợi khuẩn mà còn tồn tại tiềm ẩn các mầm bệnh, hạt cỏ dại,… Mà các đối tượng này sau này sẽ gây trở ngại cho sự phát triển của cây lúa. Đồng thời, trải qua nhiều mùa vụ canh tác cấu trúc và dinh dưỡng trong đất trồng lúa bị thay đổi, nên phải có các biện pháp cải tạo và làm đất trước khi gieo sạ để lúa phát triển tốt.

2. Quy trình làm đất trồng lúa

Quy trình làm đất trồng lúa ở mỗi địa phương và mỗi mùa vụ sẽ có một số sự thay đổi nhất định. Quy trình dưới đây là quy trình làm đất chung được đa số bà con trồng lúa hiện nay áp dụng.

Bước 1: Sau khi thu hoạch lúa, tiến hành xử lý rơm rạ và cỏ dại trên đồng ruộng. 

Từ xa xưa, theo tập quán canh tác bà con nông dân thường sử dụng biện pháp đốt đồng để tiêu hủy rơm rạ và cỏ dại trên đồng. Lợi điểm của phương pháp này là thực hiện nhanh chóng và tiết kiệm thời gian, chi phí. Song về sau nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng rơm rạ có thể cung cấp cho đất một lượng mùn hữu cơ giúp cải tạo đất hiệu quả. Chính vì thế nếu đốt bỏ đi sẽ lãng phí, gây ô nhiễm và tiềm ẩn các nguy cơ khác. 

Việc xử lý rơm rạ ngày nay được khuyến khích xử lý theo con đường tái sử dụng, đi theo giá trị của nông nghiệp tuần hoàn. Phần rơm được cuộn lại có thể tái chế thành nhiều thành phẩm khác (nhúng video). Phần gốc rạ và hạt cỏ còn lại tại đồng thì được phân hủy bằng các chế phẩm sinh học để bổ sung lại cho đất một lượng phân hữu cơ sẵn có.

Song song với xử lý rơm, gốc rạ thì bà con cần tiến hành phát quang cỏ trên bờ để loại bỏ chỗ ẩn náu của các sâu – côn trùng và bệnh hại.

Bước 2: Cày vùi, phơi ải đất trồng lúa

Trước khi tiến hành gieo sạ lúa xuống ruộng, bà con cần cày xới đất xử lý cỏ dại và các mầm bệnh thêm một lần nữa.

Sử dụng thiết bị cơ giới chuyên dụng cày tầng đất với độ sâu từ 10 – 20cm. Đối với các ruộng đang bị nhiễm phèn thì kết hợp thêm biện pháp cải tạo bằng vôi và cày đất với độ sâu là 5 – 10cm.

Bước 3: Cày bừa, trục đất

Sau khi đã cày xới, phơi ải đất thì bà con cho nước vào ruộng rồi tiến hành cày bừa, trục đất. Mục đích của việc này là làm các cục đất to nhuyễn ra, tăng độ tơi xốp và thoáng khí của đất ruộng. Việc này giúp cho rễ lúa dễ bám vào đất, lấy dinh dưỡng và nước dễ dàng, đồng thời công tác cày bừa, trục đất còn giúp hỗ trợ giải phóng các khí độc từ quá trình phân giải hữu cơ trong đất thoát ra ngoài, hạn chế ngộ độc ở lúa.

Bước 4: Trạc đất, san bằng mặt đất trồng lúa

Sau khi trục đất thì giữa nước ngâm trong khoảng 2 tuần để cho rơm rạ, cỏ dại được phân hủy. Đến thì chuẩn bị gieo sạ thì tiến hành trục lại thêm một lần nữa. Bước tiếp đến là tháo nước, đánh rãnh, san bằng mặt ruộng để chuẩn bị cho giống xuống sạ.

Lưu ý: Các bước trong quy trình làm đất trồng lúa ở trên có thể có các biến đổi tùy thuộc vào điều kiện sinh thái của từng địa phương như là tính chất đất, thời gian sạ lại, chế độ nước, cách xử lý rơm rạ,…

Dù cho các thay đổi hoặc rút ngắn các bước làm nhưng về cơ bản phải luôn đảm bảo rơm rạ và cỏ dại phải được xử lý, đất phải được đánh tơi trước khi xuống giống. 

Hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây khoai lang

Cây khoai lang tên khoa học là Ipomoea batatas Lam thuộc họ Convolvulaceae, là cây lương thực quan trọng của nhiều nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh. Khoai lang là loại cây có củ sống quanh năm, được sử dụng rộng rãi làm thức ăn cho người, cho động vật và làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp.

Ảnh: Cây khoai lang

1. Thời vụ

Khoai lang có thể trồng được quanh năm nhưng thời vụ khoai lang thích ở để trồng là vụ đông từ tháng 9 – tháng 10; vụ Xuân từ tháng 2-3.

2. Làm đất

Trên vùng đất trồng màu, sau khi thu hoạch cây trồng trước, cần cày vùi toàn bộ cỏ dại và thân lá cây vụ trước.

Đối với đất ruộng, phải tranh thủ cày bừa ngay sau khi thu hoạch vụ trước. Trong trường hợp sau thu hoạch lúa đất còn ướt thì không nên bừa kỹ sẽ làm đất dễ bị quánh, cứng, giảm độ khổng khi đất khô.

Khi lên luống, gom những cục đất nhỏ vào giữa, để những cục to ra ngoàilên luống rộng 1,2 – 1,5m, cao 30 – 50cm.

Ảnh: Làm đất trồng khoai lang

3. Cách trồng

Chọn giống đoạn 1 và đoạn 2 của những dây mập, không sâu bệnh, hom giống cắt dài 30-35cm hoặc dùng hom bánh tẻ có 5-6 đốt. Cắt hom xong đem để rải nơi thoáng mát (không được để chất đống) từ 1-2 ngày trước khi trồng sẽ giúp hom nhanh ra rễ, nẩy chồi hơn.

Trồng nông nối liền nhau theo chiều dọc luống hay mỗi mét dài trồng 4-5 hom với khoảng cách trồng 18-22cm, đặt hom thẳng dọc luống, lấp đất sâu 5-6cm, chừa đoạn hom khoảng 5-10cm vươn lên trên mặt đất. Mật độ khoảng 40.000-42.000 hom/ha. Khi đặt dây cuộn hết các lá phía dưới lại quanh thân rồi vùi hết dưới đất, chỉ chừa phần ngọn 5-10cm vươn lên khỏi mặt đất sẽ hạn chế dây bị mất nhiều hơi nước và giúp dây nhanh bén rễ hồi xanh hơn, hầu hết các mắt mầm trên hom dây đều có khả năng ra củ. Sau trồng 3-5 ngày để đảm bảo có đủ độ ẩm cho cây sinh trưởng, phát triển tốt ta nên tháo nước vào ngập luống sau đó tháo khô.

4. Bón phân

Lượng phân bón 1 ha như sau: Phân chuồng hoai mục 8-10 tấn/ha, Ure: 90-130 kg, lân: 170-235kg, kali: 130-150kg.

Cách bón: Bón lót toàn bộ lượng phân chuồng và phân lân + 30% phân đạm + 20% phân kali. Lượng phân còn lại dùng để bón thúc kết hợp với vun xới.

Bón thúc lần 1: Sau trồng 25-30 với lượng phân: 50% phân đạm + 30% phân kali, kết hợp với vun xới lần 1

Bón thúc lần  2: Tiến hành sau lần 1 từ 20-25 ngày, bón toàn bộ số phân còn lại kết hợp với vun xới lần 2.

Ảnh: Bón phân cho cây khoai lang

5. Chăm sóc

Trong 1 vụ chỉ nên vun xới kết hợp bón thúc 2 lần, không nên cuốc xới nhiều và cuốc xới muộn làm ảnh hưởng đến sự hình thành củ và tích lũy tinh bột trong củ. Trong trồng khoai lang có 2 công đọan quan trọng cần thực hiện là bấm ngọn và nhấc dây.

– Bấm ngọn khi dây đã dài khoảng 25cm (35-40 ngày sau trồng) để cho ra nhiều nhánh cấp 1 vừa để lấy nhiều đoạn giống đoạn 1 cung cấp cho sản xuất (giống đoạn 1 cho nhiều củ hơn giống đoạn 2), vừa giúp cho cây sinh trưởng thân lá nhanh trong thời gian đầu để tổng hợp được nhiều chất hữu nuôi củ tốt hơn.

– Nhấc dây cho đứt bớt rễ phụ tập trung dinh dưỡng nuôi củ lớn, thường công đoạn này thì khi dây bò ở rãnh nhiều hoặc sau các lần bón thúc dây sinh trưởng mạnh bò lan và ra rễ phụ nhiều thì ta nhấc dây để hạn chế rễ phụ và giúp cho dinh dưỡng tập trung ở rễ củ chính

Thường xuyên giữ ẩm cho các luống khoai đảm bảo độ ẩm luống đạt 70-80%. Không được để nước liên tục ở rãnh, vì độ ẩm quá lớn, cây khoai sẽ tập trung ra rễ mà không phát triển nhiều tia củ. Vào mùa khô, nên cho nước vào ngập 1/3-1/2 chiều cao luống để tưới cho khoai lang, thường tưới 2 lần lần 1: 40-45 ngày sau khi trồng và lần 2: 80-90 ngay sau khi trồng.

6. Phòng trừ sâu bệnh

Bệnh bọ hà Là một trong những loại sâu gây lại khoai lang phổ biến, trong cách trồng khoai lang lấy củ, bà con cần nắm được cách phòng trừ để đạt năng suất cao. Cây khoai bị hà thường thấy trên bề mặt củ có nhiều lỗ thủng hình tròn, quả phình to, dị dạng.

Phòng trừ: chọn giống không bị bệnh, thường xuyên nhổ cỏ, xới xáo đất. Thu hoạch đúng thời điểm, sau khi thu cần cho ruộng ngập nước 24h.
Có thể sử dụng các động vật bắt mồi như kiến, nhện, bọ chân chạy để diệt bọ hà. Hoặc dùng bẫy pheromone dẫn dụ giới tính. Luân canh với cây trồng khác như lúa, rau muống.

Sâu đục dây: Sâu đục dây và chui vào cuống củ làm cho thân phình to bị lignin hóa ở gốc tạo ra các khoang lấp đầy phân sau. Sâu đục dây ảnh hưởng nghiêm trọng ở thời kỳ hình thành củ. Dùng các biện pháp phòng tránh giống như bọ hà. Nếu phát hiện dây bị đục thì lấp đất, lấp kẽ nứt để chúng không thể chui lên.

Ngoài ra còn một số loại sâu gây ảnh hưởng như: bọ phấn trắng, sâu cuốn búp, sâu đục lá, sâu sa, bọ cánh cứng, mọt có sừng.

Bệnh thối đen khoai lang Bệnh sẽ tạo thành những vết thối lồi lõm ở gốc dây, củ, ngửi mùi giống đường đang lên men. Ít nhất hai năm nên luân canh với các cây trồng khác mà không phải ký chủ của bệnh.

7. Thu hoạch

Thời gian thu hoạch nên dựa vào đặc điểm của từng giống, vì nếu thu sớm quá củ sẽ không ngọt, thu muộn quá thì năng suất giảm. Bắt đầu thu hoạch vào thời điểm thân và lá vàng, rụng nhiều; Nhựa củ đặc, đen, mau khô. Củ khoai lang dễ nảy mầm nên sau khi thu hoạch, bà con cần bảo quản ở nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ẩm ướt.

Trên đây là tổng hợp đầy đủ, chi tiết nhất về cách trồng khoai lang cho năng suất cao. Củ khoai lang được ưa chuộng chế biến rất nhiều món hấp dẫn, thị trường tiêu thụ rộng lớn. Chúc bà con sớm thành công với kỹ thuật canh tác khoai lang củ.

Tổng hợp các loại sâu hại lúa & cách phòng trừ vụ hè thu

Vụ hè thu năm, mặc dù đầu vụ có thuận lợi về nguồn nước song do ảnh hưởng trục tiếp của thời tiết, mưa nắng đan xem nhau. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loại sâu hại lúa gây thiệt hại ở nhiều nơi trên các địa bàn tỉnh. Để hiểu rõ hơn về tình hình sâu bệnh và cách phòng trừ sâu hại trên cây lúa ở vụ hè thu. Máy bay nông nghiệp Globalcheck sẽ tổng hợp các hình ảnh sâu bệnh hại lúa trong bài viết sau đây.

Tình hình sâu hại ở vụ hè thu trên cây lúa

Đối với cây lúa, ở từng giai đoạn sẽ xuất hiện nhiều đối tượng sâu bệnh hại lúa khác nhau. Mặt khác, do điều kiện thời tiết diễn biến vô cùng phức tạp. Sẽ có những ngày nắng nóng suốt cả ngày, nhiệt độ không khí có thể lên đến 38, 39ºC.Trong khi lượng mưa trong các tháng vừa qua không đáng kể và dự báo lượng mưa các tháng 6 và 7 giảm 20 – 30% so với cùng kỳ. 

Vụ hè thu thường là một vụ sản xuất rất khó khăn do hạn hán và xâm nhập mặn sẽ xảy ra nghiêm trọng trong vụ sản xuất hè thu. Vì vậy, bà con nông dân nên nắm tình hình sâu bệnh có thể xuất hiện và có biện pháp phòng ngừa bệnh hợp lý. 

Tổng hợp các loại sâu hại và cách phòng trừ lúa vụ hè thu

1. Ốc bươu vàng

Thời tiết nắng nóng, tất cả các loại ốc bao gồm cả ốc bươu vàng vùi vào trong đất do đó ta không diệt được ngay đầu vụ. 

Khi cho nước vào bón phân lần 1 lúc này ốc bò lên cắn lúa ta kết hợp thuốc bả mồi (Toxbait 5kg/ha, Tomahawk 20kg/ha)rồi trộn với phân rải đều trên ruộng.

2. Bọ trĩ (bù lạch)

Dấu hiệu nhận biết: 

Đa phần bọ trĩ xuất hiện nhiều ở vụ hè thu hơn so với các vụ lúa mùa trong năm. Khi bà con thấy dấu hiệu như lúa vàng, đọt bị cuốn từ mép vào, nhúng ướt tay vuốt nhẹ ngang đọt lúa, quan sát trên tay thấy những con bọ trĩ nhỏ li ti có màu từ vàng nâu đến nâu sậm bám vào.

Cách trị bọ trĩ: 

• Chú ý quá trình xử lí giống lúc ngâm ủ
• Cung cấp nước và dinh dưỡng đẩy đủ. Khi bón phân, cần lưu ý hàm lượng lân (P2O5) cao) cho cây lúa phát triển rể. Bà con nên bón phân thúc đợt 1 sớm, giúp cây lúa nở lá, nở đọt. Lúc này, bọ trĩ không có nơi cứ chú và nhanh chóng sẽ bị tiêu diệt bằng ánh sáng mặt trời.
• Có thể sử dụng thuốc trừ sâu như Regen xanh ( đọc kỹ hướng dẫn trước khi sử dụng). Bà con nên áp dụng nguyên tác 4 đúng khi phun thuốc. Nhằm đảm bảo an toàn cho sức khỏe và nâng cao hiệu quả nhanh chóng khi diệt trừ bọ trĩ (bù lạch).

3. Muỗi hành

Dấu hiệu nhận biết: 

Muỗi hành thường gây hại từ giai đoạn mạ đến cuối đẻ nhánh, trước khi có đòng.
Muỗi hành thường di chuyển lên phần giữa của bẹ và thân lúa. Trong giai đoạn này, bà con sẽ thấy hiện tượng sâu bắt đầu cắn phá; thải ra chất độc có trong nước miếng làm gốc bẹ lúa phồng to, bên trong rỗng. Thời gian sau, đọt lúa phát triển bất thường thành ống như lá hành có màu trắng nhạt, phía đầu ống tròn được bịt kín bắng một nút cứng do mô lá tạo thành.

Cách trị muỗi hành

• Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, diệt sạch cỏ dại, cỏ bờ.
• Không sạ cấy dày, gieo cấy thời vụ đồng loạt.
• Bón phân đầy đủ, cân đối NPK, không bón thừa đạm giai đoạn đẻ nhánh.
• Bảo vệ thiên địch ( chủ yếu là ong ký sinh), không phun thuốc trừ sâu sớm.
• Thường xuyên thăm đồng, nếu có muỗi hành, có thể tháo nước phơi ruộng để hạn chế lây lan.
• Dùng thuốc hoá học dạng hạt như: Basudin 10H, Furadan 3H… để rải cho ruộng mạ hoặc nhúng rễ mạ vào dung dịch thuốc trước khi cấy. Khi phát hiện có nhiều tép bị hại có thể rải thuốc hạt để phòng trừ.

4. Sâu cuốn lá nhỏ

Dấu hiệu nhận biết:

Sâu cuốn lá nhỏ gây hại bằng cách nhả tơ cuốn dọc hai mép lá lại tạo thành bao. Chúng gây hại bên trong bao bằng cách ăn mô lá màu xanh của lúa; chỉ chừa lại lớp biểu bì màu trắng. Những ruộng bị sâu cuốn nhỏ gây hại thường xơ xác, bạc trắng hoặc nâu xạm. Mỗi sâu non có thể phá hại 5-9 lá. Khi đẫy sức sâu cắn đứt 2 mép lá, nhả tơ làm thành bao kín và hóa nhộng trong đó. Sâu phá hại mạnh nhất khi lúa đẻ nhánh và làm đòng đến trỗ bông. Những thửa ruộng bị sâu cuốn lá tấn công thường sinh trưởng kém, hạt bị lép. Thậm chí bị thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng lúa.

Cách trị sâu cuốn lá nhỏ

• Bà con nên cân bằng tỷ lệ gieo với mật độ gieo trồng hợp lý. Tránh trường hợp quá dầy hoặc quá thua. Bởi chúng đều ảnh hưởng đến sâu bệnh hại, chất lượng lúa và năng suất.
• Sử dụng phân bón hợp lý
• Sử dụng thuốc đặc trị như : Akka, Aramex, Regent 800WG, Apex, Padan 95, Virtako, Amate,… Bà con nên luue ý khi thấy bướm sâu cuốn lá nở rộ, thì 07 ngày sau đó phun các loại thuốc trên là tốt nhất.

5. Sâu đục thân

Dấu hiệu nhận biết:

Sâu đục thân thường xuất hiện từ giai đoạn lúa được 20 – 25 ngày đến lúa chín sáp. Nếu sâu xuất hiện sớm khi lúa dưới 30 ngày, lúc này cây lúa có khả năng nẩy chồi. Bà con không cần sử dụng thuốc BVTV. Nếu sâu tấn công lúc cây lúa ở giai đoạn 40 ngày trở về sau, ở giai đoạn này cây lúa không thể cho chồi hiệu quả. Năng suất lúa bị giảm đáng kể, gây thiệt hại nghiêm trọng cho người trồng lúa.

Cách trị sâu đục thân:

• Không nên gieo sạ dày
• Bón phân hợp lý, tránh bón dư đạm. 
• Khi lúa được 40 ngày trở về sau nếu thấy bướm xuất hiện (màu trắng, cánh có hai chấm đen). Cách đó 6-7 ngày, bà con nên tiến hành rải các loại thuốc trừ sâu như: Basudin 10H, Padan 3H, Regent 0.3G, Padan 95, Basudin 50ND ,Prevathon, …

6. Sâu phao

Dấu hiệu nhận biết:

Sâu phao là một trong những loài sâu hại mới xuất hiện gần đây. Sâu phao thường gây hại lúa ở giai đoạn ấu trùng. Chúng cắn lá cây lúa non thành từng đoạn, rồi cuộn lại sống trong ống lá rơi xuống mặt nước. Sâu phao hoạt động chủ yếu vào ban đêm. Nhưng sinh trưởng và phá hại mạnh nhất đối với những ngày trời âm u, mưa phùn. ngập úng. Mặt khác, sâu phao hại lúa thường phá thời kỳ mạ, lúa đẻ nhánh. Chúng gây hại rất nhanh có thể cắn trụi ruộng này sang ruộng khác.

Cách trị sâu phao

• Thường xuyên theo dõi và vệ sinh đồng ruộng.
• Giữ nương mạ không bị ngập nước.
• Tháo cạn nước và xử lý sâu phao bằng các loại thuốc như Padan 95, Netoxin, Vitako3, Kinalux 25EC, Regent, các loại thuốc thuộc nhóm Pyrethroid 

7. Nhện gié

Dấu hiệu nhận biết:

Nhện gié là một trong những sâu hại lúa xuất hiện nhiều nhất ở vụ lúa hè thu năm 2022. Nó gây hại cho lúa quanh năm từ giai đoạn gieo mạ đến trổ chín. Nhện gié gây hại ở mọi bộ phận của cây lúa như bẹ lá, gân lá, gié lúa và trong hạt lúa. Chúng tấn công gây hại lúa bằng cách chích hút nhựa cây để lại nhiều sọc dài màu nâu tím bên ngoài bẹ lá.

Cách trị nhện gié: 

• Sau khi thu hoạch lúa, rải rơm đốt đồng trước khi làm đất.
• Vệ sinh đồng ruộng, phun thuốc diệt cỏ gây hại.
• Sạ lúa theo hàng với mật độ vừa phải, bón phân cân đối 
• Bảo vệ thiên địch để diệt trừ nhện gié.
• Sử dụng thuốc hóa học đặc trị trừ nhện gié như  Kinalux, Nissorun,  Danitol-S 50EC, Kumulus, Comite,

8. Rầy nâu

Dấu hiệu nhận biết:

Có thể nói rầy nâu là một trong những sâu hại lúa nghiêm trong nhất. Nó gây hại bằng cách chích hút nhựa lúa. Đồng thời, chúng là tác nhân truyền bệnh virus vàng lùn, lùn xoắn lá và lúa cỏ. Rầy nâu thường gây hại từ giai đoạn sạ lúa cho đến khi sắp thu hoạch. Những mảnh ruộng bị rầy nâu tấn công tùy theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cũng như năng suất lúa. Thậm chí, bà con làm nông bị mất mùa, thiệt hại nghiêm trọng.

Cách trị rầy nâu:

• Hạn chế sử dụng các giống nhiễm rầy. Theo chuyên mục Khuyến nông (Nông nghiệp Việt Nam) khuyến khích bà con nên sử dụng các giống lúa như (giống OM 4900; giống OM 6162; giống PC10; giống ML 202)
• Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, diệt cỏ, không để lúa chét.
• Thăm đồng thường xuyên nhất là giai đoạn đầu một tháng sau sạ. 
• Giai đoạn đẻ nhánh – đòng: Dùng các loại thuốc nội hấp và thuốc ức chế sinh trưởng: Cytoc 250WP, Conphai 10WP, Actara 25WG, Asarasuper 250WDG,…
• Giai đoạn đòng già – ngậm sữa, chắc xanh: Chỉ dùng các loại thuốc tiếp xúc có hoạt chất Fenobucarb (Bassa 50EC Jetan 50EC, Nibas 50ND…) và nhóm Chlorpyrifos Ethyl (Victory 585EC, Pyrifdaaic 500EC…).

Chủ đề bài viết :

Tin tức mới nhất :

Cách làm thuốc trừ sâu sinh học từ tỏi, ớt tại nhà hiệu quả và an toàn

Hiện nay, nhiều người muốn trồng rau sạch tại nhà nhưng lại lo ngại về thuốc trừ sâu hóa học. Một giải pháp an toàn và dễ làm là sử dụng các nguyên liệu tự nhiên như tỏi và ớt để tự pha thuốc trừ sâu. Cách làm rất đơn

Cách phục hồi vườn cây ăn quả sau bão lụt

Đối với cây, vườn cây bị gãy cành, đổ nghiêng – Bước 1: Ngay sau khi hết mưa, khơi thoát nước vườn cây, tiến hành dựng thẳng gốc cây, dùng cọc chống để cây không bị nghiêng trở lại (áp dụng đối với cây thân gỗ). – Bước 2: Cắt bỏ

Cách Phòng Trừ Bệnh Vàng Lá Trên Cây Cà Phê Hiệu Quả Nhất

Bệnh vàng lá trên cây cà phê là một trong những nỗi lo của người nông dân. Vậy bệnh này có những nguyên nhân – dấu hiệu như thế nào? Cùng tìm hiểu ngay sau đây nhé! Bệnh vàng lá trên cây cà phê là một trong những loại bệnh

Phân bón lá Combi – Giải pháp bổ sung vi lượng tuyệt vời cho cây trồng

phân bón lá #Combi là dòng phân bón lá vi lượng cao cấp nhập khẩu từ Đức. Hiện sản phẩm đã được dùng phổ biến ở nước ta. Về thành phần, phân bón lá Combi chứa nhiều nguyên tố vi lượng bao gồm: ● Sắt…………………………………………..1.000ppm ● Kẽm…………………………………………2.000ppm ● Mangan……………………………………..1.000ppm ●